Chữ ký điện tử
(tiếng Anh: electronic signature) là thông tin đi kèm theo dữ liệu (văn
bản, hình ảnh, video...) nhằm mục đích xác định người chủ của dữ liệu
đó.
Chữ ký điện tử được sử dụng trong các giao dịch điện tử. Xuất phát từ thực tế, chữ ký điện tử cũng
cần đảm bảo các chức năng: xác định được người chủ của một dữ liệu nào
đó: văn bản, ảnh, video, ... dữ liệu đó có bị thay đổi hay không.
Hai khái niệm chữ ký số (digital signature) và chữ ký điện tử
(electronic signature) thường được dùng thay thế cho nhau mặc dù chúng
không hoàn toàn có cùng nghĩa. Chữ ký số chỉ là một tập con của chữ ký điện tử (chữ ký điện tử bao hàm chữ ký số)
Kiểm tra pháp lý đối với chữ ký điện tử
Khi một chữ ký điện tử trên hợp đồng hay
văn bản bị nghi ngờ thì chữ ký đó phải vượt qua một số kiểm tra trước
khi có thể xử tại tòa án. Các điều kiện này có thể thay đổi tùy theo quy
định của pháp luật, thậm chí trong một số trường hợp văn bản không có
chữ ký (telex, fax...).
Tại Hoa Kỳ, các bước yêu cầu cho chữ ký điện tử bao gồm:
- Cung cấp thông tin cho người yêu cầu về tính pháp lý của chữ ký điện
tử; các yêu cầu về phần cứng, phần mềm; các lựa chọn ký và chi phí (nếu
có);
- Xác thực các bên để nhận diện rủi ro kinh doanh và yêu cầu;
- Đưa toàn bộ văn bản ra xem xét (các bên có thể phải điền số liệu);
- Yêu cầu các bên xác nhận sự tự nguyện ký vào văn bản;
- Đảm bảo các văn bản được xem xét không bị thay đổi từ khi ký;
- Cung cấp cho các bên các văn bản gốc pháp lý để lưu giữ.
Vấn đề quan trọng cần được xem xét là sự
giả mạo (giả mạo chữ ký và giả mạo sự chấp nhận). Tòa án phải giả định
rằng sự giả mạo là không thể thực hiện. Tuy nhiên, đối với chữ ký điện
tử thì việc làm giả là không quá khó khăn.
Thông thường, các
doanh nghiệp thường phải dựa trên các phương tiện khác để kiểm tra chữ
ký điện tử chẳng hạn như gọi điện trực tiếp cho người ký trước khi giao
dịch, dựa trên các quan hệ truyền thống hay không dựa hoàn toàn vào các
văn bản dưới dạng điện tử. Đây là các thông lệ trong kinh doanh nên được
áp dụng trong bất kỳ môi trường nào vì sự giả mạo cũng là một vấn đề
thường xảy ra trong môi trường kinh doanh truyền thống. Chữ ký điện tử
cũng như chữ ký truyền thống đều không đủ khả năng ngăn chặn hoàn toàn
việc làm giả.
Các ví dụ về chữ ký điện tử nêu ở trên chưa phải là
chữ ký số bởi vì chúng thiếu các đảm bảo mật mã học về nhận dạng người
tạo ra và thiếu các kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu. Các chữ ký này
có tính chất pháp lý trên được gắn với văn bản trong một số trường hợp
cụ thể.
Chữ ký mật mã
Một chữ ký điện tử
sẽ là một chữ ký số nếu nó sử dụng một phương pháp mã hóa nào đó để đảm
bảo tính toàn vẹn (thông tin) và tính xác thực. Ví dụ như một bản dự
thảo hợp đồng soạn bởi bên bán hàng gửi bằng email tới người mua sau khi
được ký (điện tử).
Một điều cần lưu ý là cơ chế của chữ ký điện
tử khác hoàn toàn với các cơ chế sửa lỗi (như giá trị kiểm tra -
checksum...). Các cơ chế kiểm tra không đảm bảo rằng văn bản đã bị thay
đổi hay chưa. Các cơ chế kiểm tra tính toàn vẹn thì không bao giờ bao
gồm khả năng sửa lỗi.
Hiện nay, các tiêu chuẩn được sử dụng phổ
biến cho chữ ký điện tử là OpenPGP, được hỗ trợ bởi PGP và GnuPG, và các
tiêu chuẩn S/MIME (có trong Microsoft Outlook). Tất cả các mô hình về
chữ ký điện tử đều giả định rằng người nhận có khả năng có được khóa
công khai của chính người gửi và có khả năng kiểm tra tính toàn vẹn của
văn bản nhận được. Ở đây không yêu cầu giữa 2 bên phải có một kênh thông
tin an toàn.
Một văn bản được ký có thể được mã hóa khi gửi
nhưng điều này không bắt buộc. Việc đảm bảo tính bí mật và tính toàn vẹn
của dữ liệu có thể được tiến hành độc lập.