Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kiểm soát tài sản, thu nhập, một yêu cầu tất yếu trong kỷ nguyên số
---
Trương Thanh Phong - Thanh tra tỉnh Khánh Hòa
Theo quy định của Nghị định 130/2020/NĐ-CP của Chính phủ “Kiểm soát tài sản, thu nhập là hoạt động do Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập thực hiện theo quy định của pháp luật để biết rõ tài sản, thu nhập, biến động về tài sản, thu nhập, nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm của người có nghĩa vụ kê khai nhằm phòng ngừa tham nhũng, phục vụ công tác cán bộ, kịp thời phát hiện tham nhũng, ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng” (Khoản 1 Điều 3 Nghị định 130/2020/NĐ-CP của Chính phủ). Cũng tại Nghị định 130/2020/NĐ-CP (Khoản 5 Điều 3) thì “xác minh tài sản, thu nhập là việc kiểm tra, làm rõ nội dung kê khai và xem xét, đánh giá, kết luận của Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng và Nghị định 130/2020/NĐ-CP về tính trung thực, đầy đủ, rõ ràng của bản kê khai và tính trung thực trong việc giải trình về nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm”.

Ảnh minh họa
Luật PCTN năm 2018 quy định Thanh tra tỉnh kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của chính quyền địa phương; đồng thời có trách nhiệm “Xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ cơ sở dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập trong phạm vi quản lý của mình”.
1. Thực trạng công tác kiểm soát tài sản, thu nhập trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa thời gian qua:
Tháng 3/2020, lần đầu tiên, việc kê khai tài sản, thu nhập lần đầu được tổ chức thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh Khánh Hòa theo chỉ đạo của Thanh tra Chính phủ tại Công văn số 252/TTCP-C.IV ngày 19/02/2021 và UBND tỉnh tại Công văn số 1674/UBND-NC. Hiện nay, việc kê khai, tiếp nhận và quản lý bản kê khai tài sản thu nhập được thực hiện thủ công. Do vậy, gây mất thời gian và tốn kém chi phí trong quá trình thực hiện; công tác kê khai và quản lý bản kê khai thiếu khoa học và gây khó khăn cho quá trình tra cứu, xử lý dữ liệu khi số lượng bản kê khai ngày càng lớn theo thời gian (theo quy định bản kê khai tài sản thuộc đối tượng quản lý và lưu trữ lâu dài).
Theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định 130/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị: “Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày kế hoạch xác minh được ban hành. Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập tổ chức lựa chọn ngẫu nhiên người được xác minh. Việc lựa chọn được thực hiện công khai bằng hình thức bốc thăm hoặc sử dụng phần mềm máy tính”. Việc chọn ngẩu nhiên người được xác minh theo hình thứ bốc thăm sẽ thiếu thiếu minh bạch và chuyên nghiệp.
Chính vì vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kiểm soát tài sản thu nhập là yêu cầu khách quan và rất cần thiết; giúp Thanh tra tỉnh chủ động, nhanh chóng tiếp nhận, quản lý và khai thác thông tin tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai để phục vụ công tác cán bộ, công tác xác minh tài sản, thu nhập và phòng ngừa tham nhũng, kịp thời phát hiện tham nhũng, ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng; đồng thời giúp đảm bảo tính minh bạch, khách quan khi lựa chọn các đối tượng xác minh.
2. Ý tưởng về Phần mềm kiểm soát tài sản, thu nhập của đối tượng kê khai thuộc thẩm quyền quản lý của Thanh tra tỉnh như sau:
Xuất phát từ quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị theo Luật PCTN 2018 và NĐ 130/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của CP, trong đó quy định: “Thanh tra tỉnh kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước có thẩm quyền quản lý…”…“Xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ cơ sở dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập trong phạm vi quản lý của mình”.
Như vậy, với chức năng, nhiệm vụ được giao; hàng năm, Thanh tra tỉnh thực hiện công tác kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của chính quyền địa phương. Hiện nay, với số lượng 980 cơ quan, tổ chức phải thực hiện công tác kiểm soát tài sản, thu nhập theo quy định pháp luật, tương đương với 6.495 người với 6.495 hồ sơ, một con số rất lớn. Do đó, công tác tiếp nhận hồ sơ luôn mất nhiều thời gian, công sức, việc quản lý hồ sơ gặp rất nhiều trở ngại.
Từ những bất cập nêu trên, việc xây dựng “Phần mềm kiểm soát tài sản, thu nhập trên địa bàn tỉnh” nhằm giúp các đơn vị, địa phương thuận tiện trong công tác kê khai, tiếp nhận và quản lý các bản kê khai tài sản thu nhập. Phần mềm có những chức năng chính như sau:
- Chức năng hỗ trợ kê khai tài sản thu nhập: Cung cấp tài khoản cho từng cá nhân có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập truy cập vào hệ thống để cập nhật các thông tin cá nhân và thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập theo quy định. Việc này không những giúp cho chủ thể thực hiện nghĩa vụ kê khai thuận tiện hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình mà còn giúp cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực này dễ dàng quản lý, theo dõi dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập, giảm việc thực hiện thủ công bằng tay, nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc, giảm thời gian, giảm chi phí.
- Chức năng hỗ trợ xác minh việc kê khai tài sản thu nhập: Nhằm đảm bảo nguyên tắc minh bạch, khách quan, công bằng trong hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập, phần mềm có chức năng hỗ trợ lập kế hoạch xác mình tài sản, thu nhập bằng cách sử dụng thuật toán, lựa chọn ngẫu nhiên số cơ quan, tổ chức, đơn vị được tiến hành xác minh tối thiểu bằng 20% số cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền kiểm soát của mình. Đồng thời, hỗ trợ lựa chọn số lượng người để xác minh ngẫu nhiên đảm bảo tối thiểu 10% số người có nghĩa vụ kê khai hằng năm tại mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị được xác minh, trong đó có ít nhất 01 người là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Ngoài ra, Phần mềm có khả năng lựa chọn người được xác minh theo kế hoạch căn cứ các tiêu chí được quy định tại Điều 16 Luật Phòng chống tham nhũng và phần mềm được tích hợp các công cụ để đối chiếu, xác minh tài sản và xác định việc sai phạm trong việc kê khai tài sản, thu nhập.
Đảm bảo cơ sở dữ liệu để phục vụ công tác báo cáo, thống kê về lĩnh vực phòng chống tham nhũng nói chung, công tác kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn nói riêng. Phần mềm giúp cho nhà quản lý nắm được danh sách đối tượng đã thực hiện việc kê khai, chưa thực hiện việc kê khai và các sai phạm trong công tác kê khai tài sản, thu nhập tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị trên địa bàn tỉnh.
- Chức năng báo cáo, thống kê: Báo cáo kết quả triển khai thực hiện công tác kiểm soát tài sản, thu nhập; Báo cáo thống kê việc kiểm tra tài sản thu nhập theo từng thời điểm yêu cầu
3. Hiệu quả phần mềm:
Việc kê khai TSTN cũng sẽ được đơn giản hóa theo hướng nộp bản kê khai dạng điện tử trực tiếp trên phần mềm. Mỗi cá nhân có nghĩa vụ kê khai TSTN sẽ được cấp một chữ ký số (hoặc cá nhân sử dụng tài khoản được cấp để thực hiện thao tác và người đại diện cơ quan sẽ ký số danh sách nộp bản kê khai, không cần người kê khai phải có chữ ký số); sau khi điền đầy đủ thông tin, cá nhân ký số và gửi trực tiếp lên phần mềm kiểm soát TSTN. Việc này sẽ giảm bớt thời gian đi lại và công sức của người kê khai lẫn người làm nhiệm vụ kiểm tra.
Việc ứng dụng phần mềm đáp ứng được chủ trương, cơ chế, chính sách tạo môi trường pháp lý để thúc đẩy xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử tỉnh hướng tới Chính quyền số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh mà UBND tỉnh đang từng bước thực hiện; qua đó góp phần xây dựng nền hành chính đồng bộ, đảm bảo an toàn và an ninh thông tin, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả làm việc, giảm thời gian và chi phí, vừa nâng cao tính minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước.
4. Hướng phát triển:
Phần mềm có khả năng kết nối giữa các cơ quan, kiểm soát chặt chẽ về tài sản, thu nhập và biến động về tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai; giảm tối đa công sức và thời gian đối chiếu xác minh, phần mềm tích hợp việc kết nối dữ liệu (data) với các CSDL của các cơ quan khác như: Văn phòng đất đai tỉnh, ngân hàng, dữ liệu công an về tài sản phải đăng ký.... Hoặc tính năng phản hồi, sau khi cán bộ Thanh tra gởi liên kết việc xác minh bằng file điện tử đến các cơ quan nêu trên để xác minh bằng hình thức điện tử.
5. Kết luận:
Việc ứng dụng phần mềm đáp ứng được chủ trương, cơ chế, chính sách tạo môi trường pháp lý để thúc đẩy xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử tỉnh hướng tới Chính quyền số, chuyển đổi số, kinh tế số và đô thị thông minh mà UBND tỉnh đang từng bước thực hiện; qua đó góp phần xây dựng nền hành chính đồng bộ, đảm bảo an toàn và an ninh thông tin, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả làm việc, giảm thời gian và chi phí, vừa nâng cao tính minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước./.