Ngày 22/5/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 15/CT-TTg về việc tăng cường sử dụng văn bản điện tử trong
hoạt động của cơ quan nhà nước; theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm tăng cường sử dụng
văn bản điện tử trong hoạt động nội bộ của mỗi cơ quan nhà nước; tăng cường sử
dụng văn bản điện tử trao đổi giữa các cơ quan nhà nước với nhau, hoặc giữa cơ
quan nhà nước với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khác.
Xuất phát
từ yêu cầu đó, UBND tỉnh cũng đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo triển khai như:
Chỉ thị số 12/CT-UBND ngày 31/7/2013 về việc tăng cường sử dụng văn bản điện tử
trong hoạt động của các cơ quan hành chính tỉnh Khánh Hòa; Công văn số
5357/UBND-VX ngày 03/9/2014 về việc tăng cường sử dụng chữ ký số và văn bản điện tử trong hoạt động của cơ
quan hành chính nhà nước; Quyết định số 20/2014/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 quy định
trao đổi, lưu trữ, xử lý văn bản điện tử
trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Khánh Hòa; và Kế hoạch
số 6880/KH-UBND ngày 31/10/2014 triển khai thực hiện trao đổi, lưu trữ, xử lý
văn bản điện tử trong hoạt động của cơ
quan hành chính nhà nước tỉnh Khánh Hòa... Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng
nhằm thúc đẩy việc ứng dụng chứng thư số và văn bản điện tử trong các giao dịch
hành chính trên môi trường mạng tại các cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh thời
gian qua.
Ngành Thanh tra là một trong số các cơ quan sớm triển
khai ứng dụng hệ thống văn phòng điện tử và chữ ký số vào hoạt động thanh tra.
Do đặc thù chuyên môn, số lượng thông tin, tài liệu được luân chuyển, trao đổi
trên môi trường mạng (qua E-Office và thư điện tử công vụ) tại Thanh tra tỉnh
chiếm phần lớn các giao dịch trực tuyến, như là: Kế hoạch tiến hành thanh tra,
kế hoạch xác minh nội dung KNTC; báo cáo kết quả thanh tra, xác minh nội dung
KNTC; dự thảo kết luận thanh tra, quyết định giải quyết KNTC; các tin, tài liệu
khác trong hoạt động thanh tra, tiếp công dân, giải quyết KNTC và PCTN khi chưa
công bố hoặc không công bố.... Theo quy định, những loại thông tin, tài liệu
trên là tài liệu mật.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay, nếu các thông tin, tài liệu trên
được soạn thảo, lưu trữ và trao đổi theo hình thức thủ công sẽ dẫn đến lãng phí
về thời gian, kinh phí, hạn chế tính linh hoạt trong chỉ đạo điều hành, làm giảm
hiệu quả ứng dụng CNTT trong CCHC. Nhưng nếu những thông tin, tài liệu trên được
trao đổi, luân chuyển bằng cách thông thường qua môi trường mạng sẽ không đảm bảo
an toàn thông tin và vi phạm các quy định
pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
Xuất phát từ thực tế trên,
giải pháp ứng dụng Chứng thư số để mã hóa thông tin, tài liệu mật trước khi
trao đổi trên môi trường mạng nhằm giảm thiểu rủi ro trong quá trình lưu trữ,
trao đổi thông tin, tài liệu là giải pháp tối ưu và ít tốn kèm chi phí, dễ thực
hiện và mang lại hiệu quả thiết thực nhất.
Cơ sở pháp lý để thực hiện giải pháp này là Nghị định số
33/2002/NĐ-CP ngày 28/3/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước; theo đó tại
Điều 16 quy định “Nội dung bí mật nhà nước nếu truyền đưa bằng phương tiện viễn
thông và máy tính thì phải được mã hoá theo quy định của pháp luật về cơ yếu”.
Việc cung cấp, quản lý, sử dụng dịch vụ
chứng thực chữ ký số chuyên dùng phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước , tổ chức chính trị
- xã hội đã được Bộ Nội vụ hướng dẫn tại Thông tư số 05/2010/TT-BNV ngày
01/7/2010 và Bộ Quốc phòng quy định tại Thông tư số 08/2016/TT-BQP ngày
01/02/2016. Như vậy, với các cơ sở pháp lý trên đây, đã cơ bản đảm bảo cho việc
triển khai giải pháp mà tác giả bài viết đã đề xuất.
Với giải pháp này, thông tin, tài liệu sẽ được mã hóa bằng bộ phần
mềm “xác
thực và bảo mật tài liệu điện tử (VGCA)” do Ban cơ yếu Chính phủ xây dựng
và chuyển giao (miễn phí). Theo đó, chỉ những cơ quan, tổ chức, cá nhân trong
danh sách được phép nhận mới giải mã và xem được những thông tin, tài liệu trên
bằng chứng thư số chuyên dùng đã được Ban cơ yếu Chính phủ cấp.
Thông tin, tài liệu được
mã hóa trước khi gửi qua E-Office và mail công vụ sẽ bảo đảm những rủi ro trong
quá trình khai thác, sử dụng và lưu trữ; đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính
trong hoạt động của các cơ quan hành chính. Tuy nhiên, do số lượng chứng thư số
hiện nay chỉ giới hạn đến cấp Lãnh đạo cơ quan và Trưởng phòng/ban thuộc sở nên
việc triển khai giải pháp này còn gặp khó khăn. Vì vậy, trong thời gian tới để
giải pháp này triển khai có hiệu quả, thiết nghĩ cấp có thẩm quyền và xem xét mở
rộng đối tượng được cấp chứng thư số chuyên dùng; đồng thời ban hành quy định
làm cơ sở pháp lý cho việc triển khai ứng dụng được hiệu quả hơn; góp phần giảm
bớt chi phí hành chính trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trên
địa bàn tỉnh./.
Thanh Phong