MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THANH TRA LẠI
Luật Thanh tra 2010 lần đầu tiên quy định về hoạt động thanh tra lại mà những quy định khởi nguồn của nó là từ chế định phúc tra được quy định tại Pháp lệnh Thanh tra 1990. Như mọi hoạt động khác, hoạt thanh tra cũng cần phải có cơ chế để kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra, quyết định xử lý sau thanh tra,thực chất là hoạt động thanh tra lại. Đây là một cơ chế quan trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng thanh tra trong loại trừ hành vi vi phạm pháp luật của ccác tổ chức thanh tra. Tuy nhiên, thực tế từ khi có quy định về thanh tra lại, các tổ chức thanh tra, nói chung, và Thanh tra tỉnh Khánh Hoà, nói riêng chưa hoặc rất ít khi thực hiện việc thanh tra lại. Ngoài những nguyên nhân khách quan như chưa phát hiện dấu hiệu vi phạm của cuộc thanh tra, đều đáng nói các quy định đối với hoạt động thanh tra lại hiện nay đang tồn tại một số điểm bất cập trên cả phương diện lý luận, thẩm quyền và thời hiệu tiến hành.
Trước hết cần nắm rõ khái niệm về thanh tra lại, những tồn tại chủ quan cản trở việc thực hiện và đâu là nguyên nhân.
Khái niệm về thanh tra lại:
Các quyết định hành chính, hành vi hành chính nếu có căn cứ cho rằng là vi phạm tính hợp pháp và chưa bảo đảm tính hợp lý đều có thể được xem xét lại bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo một trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Trong trường hợp này, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính của cơ quan ban hành quyết định. Cụ thể:
Trường hợp thứ nhất, người đã ký kết luận thanh tra tự xem xét lại kết luận của mình khi phát hiện có sai sót, vi phạm pháp luật trong tiến hành hoạt động thanh tra. Hơn nữa, hoạt động thanh tra khi được thực hiện qua phương thức đoàn thanh tra, người ban hành kết luận thanh tra không phải tất cả các trường hợp đều có đầy đủ thông tin hoặc tham gia quá trình tiến hành thanh tra. Vì vậy, việc quy định cho người ký kết luận thanh tra được xem xét lại kết luận là phù hợp trong hoạt động thanh tra.
Trường hợp thứ hai, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền khác tiến hành xem xét, đánh giá, xử lý lại toàn bộ vụ việc khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng, làm sai lệch bản chất vụ việc. Trong trường hợp này, không thể giao cho cơ quan có thẩm quyền đã thanh tra trước đó thực hiện tự xem xét lại, mà phải là cơ quan cấp trên sẽ xem xét, đánh giá, xử lý toàn bộ vụ việc. Với trường hợp này, có thể nói, về bản chất đây là hoạt động thanh tra lại.
Như vậy: Thanh tra lại là việc xem xét, đánh giá, xử lý theo quy định pháp luật thanh tra của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà trước đó việc xem xét, đánh giá, xử lý đã được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước trực thuộc nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật, làm thay đổi, sai lệch bản chất vụ việc.
* Đặc trưng của thanh tra lại
Thanh tra lại là phương thức quan trọng trong quản lý Nhà nước về công tác thanh tra. Qua thanh tra lại giúp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát hiện, xem xét, đánh giá và xử lý, kiến nghị xử lý những vi phạm pháp luật trong hoạt động thanh tra nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động công vụ - thanh tra; Thêm vào đó, thanh tra lại là phương thức hữu hiệu trong việc kiểm soát quyền lực của cơ quan thanh tra.
* Loại hình thanh tra lại:
Về loại hình, thanh tra Nhà nước chỉ bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Vấn đề đặt ra là thanh tra lại không thuộc loại hình nào trong hai loại hình của thanh tra Nhà nước.
Đối tượng của hoạt động thanh tra hành chính là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quan hệ trực thuộc hoặc thuộc quyền quản lý trực tiếp. Thanh tra lại không thuộc loại hình thanh tra hành chính, đối tượng của thanh tra lại thường không có quan hệ về mặt trực thuộc.
Từ phân tích trên, cần phải xác định, đây là loại hình thanh tra riêng biệt, nhằm kiểm tra lại hoạt động của thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Xuất phát từ sự lẫn lộn giữa các loại hình như vậy mà thực tế Luật Thanh tra chưa có quy định về thẩm quyền, thủ tục của thanh tra lại.
Thực trạng quy định pháp luật về thanh tra lại:
Các căn cứ để tiến hành thanh tra lại như sau: Có vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục trong tiến hành thanh tra; có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật khi kết luận thanh tra; nội dung kết luận thanh tra không phù hợp với những chứng cứ thu thập được trong quá trình tiến hành thanh tra; người ra quyết định thanh tra, trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra, thanh tra viên, công chức được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ việc hoặc cố ý kết luận trái pháp luật; có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng của đối tượng thanh tra chưa được phát hiện đầy đủ qua thanh tra.
Thẩm quyền quyết định thanh tra lại: Hoạt động thanh tra nói chung có thể do các cơ quan thanh tra Nhà nước thực hiện, nhưng chủ thể của thanh tra lại không thể đồng thời là chủ thể đã tiến hành thanh tra vụ việc trước đó để đảm bảo tính khách quan, độc lập tương đối trong hoạt động thanh tra. Do vậy pháp luật Thanh tra quy định thủ trưởng các cơ quan thanh tra Nhà nước, tùy từng trường hợp có trách nhiệm báo cáo người có thẩm quyền quyết định hoặc tự mình ra quyết định thanh tra lại. Thẩm quyền cụ thể được quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 47 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP,
Những bất cập đang tồn tại trong thực tiễn
Qua thực tế hoạt động cho thấy việc thanh tra lại còn tồn tại những bất cập sau:
Một là, thiếu sự đồng bộ giữa Luật Thanh tra năm 2010 với các văn bản hướng dẫn, như thẩm quyền thanh tra lại quy định trong Luật Thanh tra 2010 chỉ nêu thanh tra lại đối với kết luận của thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới, mà không quy định việc thanh tra lại kết luận của thủ trưởng cơ quan thanh tra cấp dưới, trong khi đó nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ đã bổ sung đầy đủ đối tượng của Thanh tra lại.
Hai là, thiếu quy định việc thanh tra lại đối với kết luận thanh tra, quyết định xử lý sau thanh tra của thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Tổng cục hoặc thuộc Cục.
Ba là, thẩm quyền thanh tra lại được xác định theo mối quan hệ cấp trên, cấp dưới hoặc chịu sự quản lý, chứ không chú trọng đến nội dung bị thanh tra lại trong mối quan hệ với thẩm quyền của cơ quan tiến hành. Điều này dẫn đến có sự mâu thuẫn nhất định trong hoạt động thanh tra lại và có thể làm mất đi hiệu quả và ý nghĩa của hoạt động thanh tra lại bởi không nắm được về hoạt động chuyên môn. Có thể minh hoạ như: Thanh tra sở thực hiện chỉ do Thanh tra tỉnh tiến hành thanh tra lại. Trong khi đó, Thanh tra sở được thực hiện cả hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Vấn đề đặt ra là, nếu hoạt động do Thanh tra sở thực hiện là thanh tra chuyên ngành thì việc thanh tra lại thuộc thẩm quyền của Thanh tra tỉnh sẽ bất hợp lý. Và cũng từ quy định này dẫn đến bất cập nhưhoạt động thanh tra do Thanh tra Chính phủ tiến hành không thuộc diện được thanh tra lại. Mặc dù Thanh tra Chính phủ là cơ quan thanh tra cấp cao nhất nhưng việc quy định kết luận thanh tra của cơ quan này không bị thanh tra lại là bất hợp lý.
Ba là, đối tượng thanh tra lại, về phạm vi và nội dung được xác định trên cơ sở căn cứ vào dấu hiệu vi phạm pháp luật trong quá trình thanh tra và ra kết luận thanh tra.
Như vậy thanh tra lại đối tượng thanh tra lại cũng chính là đối tượng của cuộc thanh tra ban đầu chưa là đánh giánhững vấn đề cuộc thanh tra trước đó chưa được xem xét, đánh giá và xử lý khách quan, đúng pháp luật đồng thời hậu quả pháp lý của báo cáo kết quả thanh tra lại, kết luận thanh tra lại chưa được quy định cụ thể.
Mặt khác, cần phải quy định rõ ràng về thời hiệu và số lần thanh tra lại một cách rõ ràng bằng luật hay văn bản dưới luật, do nguồn lực thanh tra luôn hạn chế, tránh tình trạng thanh tra lại nhiều lần với cùng một đối tượng và cùng một nội dung.
Thanh tra lại là một chế định mới trong Luật Thanh tra 2010 nhưng đã khẳng định tầm quan trong cũng như vị trí của nó trong hệ thống pháp luật thanh tra. Do đó, cần phải làm rõ loại hình của thanh tra lại, xác định chính xác nội dung liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn cũng như cơ cấu tổ chức của các cơ quan thanh tra Nhà nước và cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Trong đó cần phải tập trung sửa đổi quy định của Luật Thanh tra, đảm bảo tính thống nhất, toàn diện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật./.
(Bài Phòng TTGQKNTC 2)